Tục thờ Mẫu của người Việt đã giao hoà

    Theo tiến trình lịch sử dân tộc, tục thờ Mẫu (hay còn gọi là đạo Mẫu) được người Việt đi mở nước mang theo vào miền Trung và miền Nam. Khi đến khai phá những vùng đất mối, tục thờ Mẫu của người Việt đã giao hoà với tín ngưỡng thờ Nữ thần Pô Nagar của người Chăm ở miền Trung để trở thành tục thờ Bà Mẹ Xứ Sở, rồi được Việt hoá thành Thánh Mẫu Thiên Yana (tức bà Chúa Tiên ở Huế, hay bà Chúa Ngọc ở Nha Trang), được các vua của triều đình phong kiến nhà Nguyễn sắc phong Thượng đắng thần và tặng thêm nhiều mĩ tự. về sau tiếp tục đi vào Nam Bộ để thành tục thờ bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, An Giang (do giao lưu với tín ngưỡng thờ nữ thần của người Chăm), và tục thờ Bà Đen do giao lưu với tín ngưỡng Chăm – Khơmer ở Tây Ninh mà thành.

Tục thờ Mẫu của người Việt đã giao hoà

    Trên cơ sở tục thờ Mẫu của người Việt ở Bắc Bộ truyền vào Trung Bộ và Nam Bộ, giao hoà với tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Chăm và một sô” yếu tố tín ngưỡng của người Khơmer, rồi được Việt hoá thành tục thờ Bà. Suy cho cùng đều có nguồn gốc từ tục thờ Nữ thần của người Việt cổ (ở vùng quê hương đất tổ), nhằm phản ánh truyền thống coi trọng các bà mẹ, đồng thời còn phản ánh sự đề cao địa vị và vai trò của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền ở nước ta xưa kia, đã trở thành truyền thống tốt đẹp góp phần tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc.

    Cũng giống như tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ phụng các anh hùng và các danh nhân văn hoá, tục thờ Mâu và tục thờ Bà, đều là những cách thể hiện nhận thức sâu sắc của nhân dân ta về quê hương đất nước và con người Việt Nam, để tăng thêm lòng tự hào kiêu hãnh về truyền thông lịch sử văn hoá dân tộc. Cũng từ tục thờ Mẫu và thờ Bà đã hình thành nên tiểu hệ thống lễ hội tôn thờ các vị Thánh Mẫu hay Thánh Bà ở các ngôi đền, điện hay phủ tại nhiều làng xã trong cả nước từ Bắc vào Nam như: lễ hội Phủ Dầy (Nam Định), lễ hội Phủ Tây Hồ (Hà Nội), lễ hội Phủ Sòng (Thanh Hoá), và nhiều lễ hội đền thờ Mẫu khác ở Bắc Bộ; Lễ hội điện Hòn Chén (Huế), lễ hội Tháp Bà (Nha Trang), lễ hội vía Bà Chúa Xứ (Châu Đốc, An Giang), lễ hội vía Bà Đen (Tây Ninh), v.v…


Đọc thêm tại:

Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt cổ

    Từ phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt cổ về sau đã dẫn đến việc hình thành tục thồ phụng các vị anh hùng lịch sử, danh nhân văn hoá và các vị tổ sư bách nghệ. Có thể nói rằng, đây là sự mở rộng của tục thờ phụng tổ tiên trong gia đình, dòng họ ra toàn xã hội, để tở lòng ngưỡng mộ và biết ơn sâu sắc đối với các vị anh hùng dân tộc, nhưng đó cũng là một cách làm khôn ngoan để duy trì truyền thông tốt đẹp mà người xưa để lại.

    Trên cơ sở đó, người Việt đã tổ chức lễ hội để tôn vinh công danh, sự nghiệp của các anh hùng lịch sử hoặc các danh nhân văn hoá theo những ngày nhất định (có thể là ngày sinh hay ngày mất, hoặc ngày gắn liền với sự kiện lịch sử lớn mà người đó đã tham gia và lập công trạng…) trong chu kỳ một năm, thì đó chính là một cách làm giỗ chung do cộng đồng làng xã hoặc cộng đồng dân tộc mang tính quốc gia đứng ra tổ chức. Các lễ hội dân gian tôn thờ, tưởng niệm các vị anh hùng lịch sử, danh nhân văn hoá tại các đền miếu, đình chùa ở khắp các làng xã của nước ta, thể hiện ý chí của toàn dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước từ nghìn xưa đến ngày nay. Đó là một nét đặc trưng độc đáo của bản sắc văn hoá dân tộc, được bảo tồn và phát huy cao độ trong các lễ hội truyền thông của người Việt.

Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt cổ

    Ngoài ra, ở người Việt cổ còn có tục thờ Mẫu vốn có nguồn gốc lâu đời từ tục thờ Nữ thần trong tín ngưỡng bản địa, như vị nữ thần cổ xưa nhất của người Việt là Mẹ Âu Cơ; hoặc tục thờ Phật Mẫu Man Nương và bốn người con gái của bà là Pháp Vân Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (Tứ Pháp) về thực chất cũng có nguồn gốc từ tục thờ Nữ thần của người Việt cổ. Trên cơ sở tục thờ Nữ thần như: Mẹ Đất, Mẹ Trời, Me Nước… để hình thành nên tục thờ các Mầu trong đạo Tam phủ hay Tứ phủ của người Việt cũng là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa. Từ các vị nữ thần tượng trưng cho các lực lượng tự nhiên, như: Mẹ Đất là Mẫu Địa, Mẹ Trời là Mẫu Cửu Thiên (Mẫu Thiên), Mẹ Nước là Mẫu Thuỷ (hay Mẫu Thoải), Mẹ Núi rừng là Mẫu Thượng Ngàn. Đếnthế kỷ XVI, xuất hiện thêm Mẫu Liễu Hạnh, vốn là một nhân vật có thật về sau được dân gian huyền thoại hoá mà thành một Mẫu trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu, trong đó Mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất vào Mẫu cửu Thiên, cùng với Mẫu Địa, Mẫu Thuỷ, và Mẫu Thượng Ngàn, trông coi bôn phủ (tứ phủ) là phủ Thiên (phủ trên Trời), phủ Địa (phủ dưới Đất), phủ Thuỷ (phủ dưới Nước: sông hồ, biển cả), và phủ Núi Ngàn (phủ Núi rừng).



Lễ Hội thường mang ý nghĩa gì?

    Sở dĩ người Việt cổ thời Hùng Vương mở hội vào mùa thu vì đây là lúc nông nhàn, khi vụ mùa vừa kết thúc thì người ta tổ chức lễ hội để tạ ơn Trời – Đất và các vị thần linh đã phù hộ cho cấy hái được mùa. Nhân đó họ tổ chức vui chơi giải trí sau một năm làm ăn gian nan, vất vả… Hơn nữa, nước ta ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, vào mùa thu thường hay có bão lụt xảy ra. Vì vậy, người nông dân vốn rất e ngại vì sự bất thường của thời tiết, nên họ tổ chức lễ hội để cầu xin thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hoà, để yên tâm làm ăn sinh sống.

Lễ Hội thường mang ý nghĩa gì?

    Hiện nay ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, ta vẫn còn thấy khá nhiều lễ hội tổ chức vào mùa thu. Đó chính là dấu vết của các lễ hội nông nghiệp cổ đại thời Hùng Vương còn được bảo lưu trong một sô” lễ hội; Hoặc tục đánh trống đồng nay vẫn còn thấy trong lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương ở đền Hùng (Phú Thọ). Tục đua thuyền cũng được bảo lưu cho đến tận bây giờ trong nhiều lễ hội ở đồng bằng sông Hồng, được minh định đã xuất hiện trong các lễ hội nông nghiệp cổ thời Hùng Vương, bằng việc giải mã các hình chạm khắc trên trống đồng Đông Sơn. Ngoài ra, trong ngày hội thuở ấy còn có tục trai gái hát đối đáp giao duyên, vui chơi nhảy múa… Đấy là những hoạt động văn hoá mang tính giải trí, vui nhộn của cư dân nông nghiệp cổ đại. Đồng thời khi ấy trong lễ hội còn có các trò tục hay nghi lễ mang tính phồn thực như tục rước ông Đùng bà Đà, trò Trám rước chúa Gái, trò tục cướp kén (những cái kén làm biểu tượng cho âm vật và dương vật), trò tục hú tùng dí (múa “dí” hình âm vật vào hình dương vật theo nhịp trống “tùng”), tục tắt đèn, tục chen, trò tục bắt chạch trong chum, v.v… hiện vẫn được bảo lưu trong nhiều lễ hội ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ của nước ta.

    Như vậy, lễ hội thời Hùng Vương là lễ hội hoàn toàn mang tính nông nghiệp, phản ánh nguyện vọng và ưóc mơ của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, đó là “mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh”. Mà căn Gỗi trong đời sống tâm linh của người Việt cổ là tín ngưỡng phồn thực, được tái hiện trong các lễ hội nông nghiệp cổ đại mang tính bản địa, thuần Việt. Ngoài việc tố chức các lễ hội nông nghiệp theo mùa, ở thời kỳ này trong đời sông xã hội đã xuất hiện các phong tục tập quán khá là văn minh như: phong tục về lễ tết, thờ cúng tổ tiên, cưới hỏi, ăn mặc, ở và đi lại, v.v… cũng mang đậm bản sắc văn hoá độc đáo của người Việt cổ.



Hệ thống lễ hội dân gian

    Trong hệ thống lễ hội dân gian tổ chức tại các làng xã nông thôn cổ truyền ở nước ta, các sinh hoạt văn hoá như tín ngưỡng, tôn giáo tâm linh, các nghi thức và nghi lễ cúng tế, các trò tục, trò diễn, trò chơi dân gian đều được nảy sinh từ đời sống thực tế của người dân lao động, và đểu có nguồn gốc từ văn hoá bản địa. Đó cũng chính là quá trình tích tụ bền vững các giá trị văn hoá dân gian và dân tộc vào trong các lễ hội ở khắp làng quê nước ta. Do vậy, lễ hội làng còn là môi trường lí tưởng để sản sinh thêm, nuôi dưỡng và làm phồn sinh các giá trị, tinh hoa văn hoá thuộc về bản sắc văn hoá dân tộc, đồng thời nó còn là nơi bồi dưỡng và nâng cao bản lĩnh văn hoá và bản sắc dân tộc lên những tầm cao mối, phù hợp với mọi thời đại của lịch sử dân tộc.

Hệ thống lễ hội dân gian

    Ngay từ khởi thuỷ, lễ hội đã gắn bó với hệ thống tín ngưỡng dân gian bản địa và nó được nảy sinh trên cơ sở đời sông văn hoá bản địa của cư dân Việt cổ. Trong hệ tín ngưỡng dân gian của người Việt, đầu tiên phải kể đến là các tín ngưỡng nông nghiệp cổ, là nguyên cớ cho việc tổ chức các lễ hội nông nghiệp trong thời kỳ văn hoá Đông Sơn. Căn cứ vào các nguồn sử liệu của khảo cổ học và dân tộc học, thì xã hội nước ta thời Văn Lang – Âu Lạc là xã hội nông nghiệp cổ đại. Do vậy, lễ hội thời kỳ này phản ánh khá rõ nét đời sống tâm linh của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, trong các sinh hoạt văn hoá dân gian, mà hạt nhân tín ngưỡng của lễ hội khi ấy là các nghi lễ phồn thực trong tín ngưỡng nông nghiệp cổ như: cầu nhân khang, vật thịnh, cầu mùa, cầu nước, v.v…

    Qua việc giải mã các hình ảnh chạm khắc trên trống đồng Đông Sơn, thì hình tượng người Lạc Việt đi dự hội, trên đầu họ có cắm những bông lau, mà hoa lau chỉ có vào mùa thu (tháng 8 âm lịch). Mặt khác, theo nguồn thư tịch cổ Trung Quốc có ghi chép về việc người Việt cổ mở hội vào mùa thu, như sách Hán thư chép rằng: Người Lạc Việt đến mùa thu tháng 8 thì mở hội, trai gái trao duyên bằng lòng thì lấy nhau; Hoặc sách Thái Bình hoàn vũ ký có ghi: Người Lạc Việt không biết Tết, biết năm (theo lịch Trung Quốc), mà cứ lấy ngày Sửu tháng 8 làm ngày hội, già trẻ đi chúc tụng nhau, coi đó là ngày đầu năm.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: khai niem van hoa, lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là cái nôi nuôi dưỡng bản sắc văn hoá dân tộc

     Khi nào lễ hội phát triển ở mức độ cao, mạnh mẽ thì nó tác động vào phong tục tập quán thuộc hệ thống này, hoặc là chấp nhận, hoặc là thu nạp thêm vào mình những yếu tố mới nảy sinh trong lễ hội. Ngược lại, nếu phong tục tập quán mạnh hơn thì nó vẫn tiếp tục duy trì những đặc tính của lễ hội ở mức độ phát triển thấp, ngay cả khi mà nhân loại đạt tới trình độ phát triển cao hơn; thậm chí cả khi các yếu tố mang những đặc tính trái hẳn với quan niệm đạo đức, nếp sống đương thời. Chẳng hạn, như các nghi lễ phồn thực trong các lễ hội nông nghiệp ở nhiều địa phương của nước ta vẫn còn lưu giữ được các nghi lễ phồn thực nguyên thuỷ bằng tục thờ sinh thực khí, thờ thần Đực – Cái hay Ảm – Dương, hoặc tục thờ nữ nương, v.v…

    Như vậy, lễ hội truyền thông là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian mang đậm bản sắc dân tộc. Đó là một hiện tượng văn hoá – xã hội rất phong phú về mặt nội dung, và đa dạng về mặt hình thức, song vô cùng phức tạp. Lễ hội truyền thống gồm có ba thực thể hay ba thành tố: lễ, hội, và phong tục đan xen và hoà quyện gắn liền với nhau làm cho người ta rất khó phân biệt đâu là các nghi lễ, đâu là phong tục tập quán, và đâu là hội hè, vui chơi giải trí. cả ba hệ thống này gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể không thể chia tách được, đó là lễ hội truyền thống của người Việt.

Lễ hội truyền thống là cái nôi nuôi dưỡng bản sắc văn hoá dân tộc

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀ CÁI NÔI NUÔI DƯỠNG BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

    Như đã trình bày ở trên, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian diễn ra ở khắp các làng xã cổ truyền của nước ta từ ngàn xưa. Trong lễ hội hàm chứa rất phong phú và đa dạng các giá trị văn hoá dân gian tiêu biểu của một làng quê nông nghiệp, và nó là một thành tố văn hoá quan trọng tạo nên văn hoá làng. Vì vậy, dân gian vẫn quen gọi nôm na lễ hội truyền thống của làng mình là hội làng. Điều đó là một thực tê không thể phủ nhận được, vì từ ngàn xưa, lễ hội của làng bao giờ cũng gắn liền với việc thờ phụng các vị thần linh ở đền miếu, đình và cả chùa làng nữa. Vì vậy, các công trình kiến trúc cổ kính rêu phong là những ngôi đền, ngôi đình và ngôi chùa làng đã trở thành những không gian tâm linh lí tưởng và là những trung tâm hay diễn trường của lễ hội ở các làng quê. Có thể cho ràng, lễ hội của các làng xã xưa kia vừa là một thiết chế chính trị – tôn giáo, vừa là thiết chế xã hội – văn hoá ở đơn vị cơ sở của nước ta, được nhân dân truyền đời tự giác tuân theo, và được nhà nước phong kiến Đại Việt (từ thế kỷ XI-XVIII) và triều đình nhà Nguyễn (từ thế kỷ XIX- giữa XX) thừa nhận.


Đọc thêm tại: