Bản chất của lễ hội

    Còn phần Hội là phần mở rộng tiếp theo sau của phần lễ. Phần hội bao gồm các trò tục, trò diễn và trò chơi dân gian. Đó là phần vui chơi giải trí mang tính vui nhộn, hài hước và rất sống động. Trên thực tế, có một sô” trò tục được tổ chức đan xen với phần lễ, ngay sau khi đã cử hành đại tế lễ trọng thể xong, như các đám rước Thần đi du ngoạn, hoặc việc rước Nước mà trong đó có cả các nghi lễ và nghi thức cùng các trò tục, diễn xướng (dân ca, dân vũ, hay dân nhạc…), để diễn tả hoặc mô phỏng lại theo thần tích, vì thế mà dân gian vẫn hay quan niệm: “trước là để thờ thần, sau là để mua vui”. 

    Tuy nhìn hoặc phân chia thành hai phần như vậy, song về thực chất không hề có sự tách bạch giữa lễ và hội. Và ở mỗi lễ hội cụ thể thì “mức độ” Lễ và “mức độ” Hội cũng không hẳn như nhau… Với diện mạo hay cấu trúc của lễ hội như vậy, mà loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian này có tên gọi ghép là Lễ hội truyền thống. Tên gọi như thế, theo chúng tôi là phù hợp với nội dung và hình thức của nó vốn có từ rất lâu đời trong lịch sử văn hoá dân tộc Việt.

Bản chất của lễ hội

    Trong diễn trình phát triển của mình, lễ hội luôn luôn chịu ảnh hưởng tác động qua lại của phong tục tập quán làm cơ sở nền tảng cho lễ hội tồn tại và phát triển, hay ta có thể nói rằng, phong tục tập quán là môi trường nuôi dưỡng lễ hội. Nếu nhìn từ góc độ văn hoá thì lễ hội là một bộ phận của phong tục, hoặc chính bản thân lễ hội đã mang tính phong tục khá rõ nét. Như nhà bác học Xô Viết X. A. Tocarev đã viết: “Tất cả mọi thể chế được thiết lập có truyền thống, có ý niệm chung; và có được do sự hoạt động xã hội nào đó, những quy định truyền đời đều được gọi là “phong tục”. Thuật ngữ phong tục rất gần với khái niệm nghi lễ (Rituraỉ) và trong nhiều trường hợp hai khái niệm này cùng có ý nghĩa. Nhưng khái niệm phong tục rộng hơn so với khái niệm nghi lễ. Tất cả các nghi lễ là phong tục, nhưng không phải tất cả các phong tục là nghi lễ”

    Thực tế đã chứng tỏ khi lễ hội được hình thành và phát triển lặp đi lặp lại nhiều lần vào một thời điểm cố định, thì nó đã hoà nhập vào trong phong tục tập quán, trở thành thói quen và nếp sống văn hoá dân gian của cả cộng đồng làng xã và toàn xã hội. Và ở đó lễ hội phát triển trong mối quan hệ có sự tác động qua lại với phong tục tập quán.



Cấu trúc nội dung của lễ hội truyền thống

Về cấu trúc nội dung của lễ hội truyền thống

    Như đã phân tích ở trên, ta thấy khai nguyên của lễ hội truyền thống chỉ đơn giản là các Lễ thức (khởi nguyên của các nghi lễ và nghi thức sau này). Đó là một hệ thông ứng xử trân trọng của con người với thế giới tự nhiên (đặc biệt là giới siêu nhiên, siêu hình), là những sản phẩm của trí tưởng tượng của con người thời cổ đại.

    Cách ứng xử này với thiên nhiên của con người bao giờ cũng mang tính tâm lí cộng đồng dân tộc sâu sắc. Mỗi một dân tộc có một hệ thống nghi lễ, tế tự riêng, tuỳ thuộc vào cách quan niệm hay nhận thức của họ đối với các hiện tượng tự nhiên. Trải qua các quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc xã hội, một số nghi lễ bị mai một đi, trong khi đó một số khác được duy trì đều đặn và thường xuyên hơn, nên dần dần đã trồ thành truyền thống, thành nếp sông và phong tục tập quán của mỗi dân tộc. Mỗi một loại hình lễ hội được hình thành và phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh văn hoá xã hội khác nhau, cùng với sự nhận thức về môi trường sống ngày càng cao của con người.

Cấu trúc nội dung của lễ hội truyền thống

    Trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển của lễ hội dân gian ở người Việt, từ lễ hội sơ khai thời nguyên thuỷ chuyển sang lễ hội nông nghiệp và lễ hội thờ cúng tổ tiên thòi kỳ văn hoá Đông Sơn (hay nền văn hoá Văn Lang – Âu Lạc), rồi trở thành hệ thống lễ hội có nhiều loại hình rất đa dạng, phong phú trong các thời kỳ lịch sử kế tiếp sau. Đó là kết quả của các mối quan hệ giữa lễ hội dân gian bản địa với tín ngưỡng – tôn giáo dân gian và các tôn giáo chính thống (như: Nho – Phật – Đạo giáo) du nhập vào nước ta. Nhưng suy cho cùng thì lễ hội truyền thông của người Việt gồm có hai phần: Lễ và Hội gắn quyện chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thông nhất. Trong đó, phần lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và các tôn giao du nhập, cùng với các đồ vật được sử dụng làm đồ tế lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc. Thông qua các nghi lễ này, con người dường như được giao cảm với thế giới siêu nhiên. Đó là các vị thần linh (có thể là các vị nhân thần hoặc thiên thần), do chính trí tưởng tượng của con người tạo ra, và họ cầu mong các vị thần linh đó bảo trợ và có những tác động tốt đến tương lai, đến vận mệnh cuộc sống của mình. Do vậy, phần Lễ là nguyên có và làm hạt nhân trung tâm của mọi lễ hội dân gian. Hiểu một cách đầy đủ thì có lễ mói có hội, và lễ giữ vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của lễ hội truyền thống nói chung.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: van hoa la gi, lễ hội truyền thống việt nam

Nguồn gốc sơ khai của lễ hội

    Xét về nguồn gốc lịch sử thì ở thời nguyên thuỷ, lao động và vui chơi giải trí thường đan xen trong các lễ thức, đó là những phương tiện mà con người thường dùng để tham gia vào thế giới tổ tiên hay thế giới thần linh siêu nhiên. Lễ hội ở thời kỳ này vẫn chưa được tách riêng ra khởi các hoạt động sông khác của con người, như vui chơi, giải trí và lao động sản xuất. Đó chính là lễ hội sơ khai hay lễ hội nguyên hợp, tức là vẫn chưa có sự tách bạch giữa lễ và hội, với các hoạt động văn hoá khác. Được hình thành trong thiên nhiên và tách ra khởi giới tự nhiên (hay là một bộ phận của giới tự nhiên), bởi khả năng tư duy, con người dần dần ý thức được phần nào sự nhở bé và cách biệt của mình với môi trường xung quanh.

Nguồn gốc sơ khai của lễ hội

    Nhưng để tồn tại và phát triển, con người lại luôn mong muôn tiếp cận và hoà nhập vào môi trường tự nhiên. Chính vì vậy mà họ đã hoá trang thành các hình muông thú để cầu mong sự bình đẳng của mình với môi trường. Ý nghĩa đó của lễ hội hoá trang vẫn còn được duy trì, bảo lưu trong xã hội có giai cấp, nhằm mục đích khôi phục lại sự bình đẳng giữa con người với nhau, cũng như giữa con người với môi trường tự nhiên như thuở sơ khai ban đầu vậy. Cùng với tiến trình lịch sử văn hoá của mỗi dân tộc, các nghi lễ cúng tế cũng phải tiến triển theo, và dần dần trở thành hệ thống nghi lễ rất phức tạp, đa dạng và phong phú. Sự phát triển này không nằm ngoài quy luật chung của lịch sử văn hoá nhân loại. Mà tiến trình văn hoá, như GS. Đinh Gia Khánh đã nêu, xét cho cùng chính là sự thích nghi một cách có chủ động và có ý thức của con người với môi trường. Tiến trình văn hoá không ngừng hướng tối một sự thích nghi hoàn hảo, tức một sự hài hoà tuyệt đôi và lí tưởng giữa con người và môi trường. Và để vươn tới sự hài hoà cao hơn ấy, con người luôn luôn sáng tạo, nhằm vươn tới một sự hài hoà cao hơn, mà hoạt động thực tiễn lúc đầu vốn chỉ nhằm mục đích ích dụng, về sau mối tất yếu được đưa tới nhu cầu thẩm mĩ.

    Tương tự như vậy, các nghi lễ thờ cúng ban đầu chỉ thuần tuý mang tính ích dụng, dần dần được hoàn thiện và nhiều yếu tố đã mang tính thẩm mĩ. Tính thẩm mĩ ấy tác động vào cảm xúc con người làm cho họ ngoài việc cân bằng về mặt tâm lí, do được thoả mãn nhu cầu giao cảm với thần linh, còn gây cho họ những khoái cảm nhất định, chính vì vậy, nhu cầu vui chơi giải trí cũng được thoả mãn. Những hoạt động lao động sản xuất thường xuyên của con người ngày càng đòi hỏi phải có thời gian để nghỉ ngơi và vui chơi giải trí, nên những yếu tố mang tính thẩm mĩ và các hoạt động vui chơi giải trí cũng ngày càng phát triển để trở thành nhu cầu không thể thiếu trong các hoạt động văn hoá cộng đồng. Mặt khác, trải qua thòi gian dài, một số yếu tố đã được tách hẳn ra khởi cái ban đầu, và chỉ còn mang tính vui chơi giải trí thuần tuý mà thôi (như các trò chơi dân gian trong các lễ hội); và đây cũng chính là tiến trình hình thành và phát triển của lễ hội dân gian người Việt.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn hóa là gì, lễ hội truyền thống

Nguồn gốc và bản chất của lễ hội

GIỚI THIỆU VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT

Nguồn gốc và bản chất của lễ hội

    Cũng giống như văn hoá dân gian, để xác định nguồn gốc và bản chất của lễ hội dân gian truyền thống của người Việt, người ta phải dựa vào nhiều nguồn sử liệu khác nhau như khảo cổ học, dân tộc học, văn hoá dân gian học (hay Folklore học – dân tục học)…

Nguồn gốc và bản chất của lễ hội

    Chẳng hạn, dựa vào các di chỉ khảo cổ học và các di tích từ ngàn xưa để lại, qua các trống đồng Ngọc Lũ, Khai Hoá và Hoàng Hạ, v.v… thuộc nền văn hoá Đông Sơn, vốn được khảo cổ học xác định niên đại cách đây khoảng 3000 năm. Từ các hình ảnh chạm khắc hết sức sinh động và tinh tê trên các trống đồng Đông Sơn, như người hoá trang thành muông thú, cảnh săn bắt, bơi trải, đua thuyền, cảnh cầu mùa, trai gái giã gạo, hát đôi đáp giao duyên, cảnh đấu vật, múa khiên hay múa giáo, v.v…
     Người ta có thể đoán định được rằng lễ hội đã xuất hiện từ rất xa xưa; và nguồn gốc cổ xưa của nó có lẽ có từ trước thời kỳ văn hoá Đông Sơn, gần như cùng với việc hình thành những cộng đồng đầu tiên trên dải đất Việt Nam. Con người là động vật bậc cao, có ý thức và biết tư duy. Ngay từ thuở khai thiên lập địa, con người đã thấy được sự nhở bé của mình, trước sự kỳ vĩ của thiên nhiên và vũ trụ bao la. Những bí ẩn của thiên nhiên, mà trí tuệ ngây thơ khi đó của con người không thể lí giải nổi, được tiềm thức của con người ghi nhận, như một sự phi phàm linh thiêng. Chính vì vậy mà tín ngưỡng sơ khai và tôn giáo nguyên thuỷ ra đời. Để bày tở đức tin và tôn kính trước các hiện tượng thiên nhiên bí ẩn đó, người xưa đã làm một số động tác, mà họ cho là cung kính và linh thiêng nhất. Ví như, người xưa cho rằng hiện tượng mưa là do thần Sấm hay thần Sét làm ra, cho nên muôn cầu mưa thì họ cử hành tê lễ nhằm tác động vào thần linh bằng cách mô phởng tiếng sấm hay sét để gọi mưa bằng các động tác đánh trông, gõ chiêng. Tuy nhiên, có nơi người ta lại quan niệm rằng mưa là do thần Mặt Trời làm ra. Vì thế, họ chỉ nghĩ một cách đơn giản là muôn có mưa thì phải tiến hành một nghi lễ tác động mạnh vào thần Mặt Trời để cầu mưa. Ví như, điệu múa “Mặt Trời” của người da đở Nam Mĩ, hay lập đàn tế lễ cầu đảo mưa và hất phết đánh cầu ở cư dân nông nghiệp nước ta.


Đọc thêm tại:

Văn hóa lễ hội nước ta được du nhập từ những nước khác

    Các yếu tố ngoại sinh khi du nhập vào nền văn hoá bản địa đã được chấp nhận và tồn tại song song cùng với các yếu tố tương đương với chúng trong nền văn hoá bản địa và tạo nên một sự đa dạng, phong phú của nền văn hoá đó. Các dạng quan hệ kiểu này có thể kể đến mối quan hệ trong tiếng Việt của các từ du nhập và các từ bản địa trong vốntừ vựng. Trong từ vựng tiếng Việt tồn tại rất nhiều các từ Hán – Việt vốn là các từ du nhập từ nền văn hoá Trung Quốc và chúng vẫn song song tồn tại cùng các từ gốc bản địa như những từ đồng nghĩa và chỉ phân biệt với nhau bằng văn phong. Thường thì những từ Hán – Việt được dùng trong văn viết, trong cách nói trịnh trọng, trong ngôn ngữ văn học; còn các từ gốc bản địa hay được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp, trong văn phong nói, trong cách nói nôm na của dân chúng.

Văn hóa lễ hội nước ta được du nhập từ những nước khác

    Một ví dụ khác cũng thể hiện mối quan hệ nêu trên, đó là trang phục ngày cưới của cô dâu và trang phục tang lễ của người Việt. Theo phong tục cổ truyền của người Việt thì cô dâu mặc áo dài màu đở, tượng trưng cho sự may mắn và hạnh phúc, song khi văn hoá Pháp du nhập vào thì các cô dâu Việt ở thành thị đã chấp nhận việc mặc áo dài hay váy đầm màu trắng, là màu tượng trưng cho sự trong trắng, tinh khiết (theo phong tục của văn hoá Pháp) trong ngày cưới của mình. Hoặc trong việc để tang cũng diễn ra như vậy, tang phục màu trắng là tượng trưng cho sự tang tóc theo phong tục cổ truyền người Việt, song dưới ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá Pháp, mà một sô” người Việt ở thị thành đã chấp nhận mặc tang phục màu đen của người phương Tây (ngoại nhập), tồn tại song song với tang phục màu trắng (bản địa) trong phong tục tang lễ của người Việt thòi hiện đại.

    Ngoài những kiểu quan hệ nêu trên, còn có các mối quan hệ kết hợp giữa các yếu tố ngoại sinh với nhau, hoặc sự kết hợp của các yếu tố ngoại sinh trên nền tảng của các yếu tố văn hoá bản địa để tạo nên sự phong phú nhiều tầng, nhiều lớp cho nền văn hoá dân tộc Việt, mà ta có thể thấy rất rõ khi phân tích hiệntượng “Tam giáo đồng nguyên”, khi phân tích hệ thống nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo trong các lễ hội cổ truyền của nền văn hoá Việt truyền thống.

    Tóm lại, xử lí mối quan hệ giữa các yếu tố nội sinh và các yếu tố ngoại sinh trong giao lưu văn hoá chính là quy luật phát triển của các nền văn hoá trên thê giới nói chung, và văn hoá Việt Nam nói riêng. Sự phát triển này luôn làm giàu cho bản sắc vân hoá của mỗi dân tộc, nếu ta hiểu bản sắc văn hoá là một hệ thống các giá trị mồ luôn phát triển và không ngừng hoàn thiện.